TÓM TẮT ĐỀ ÁN: Đặt tên một số đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn thành phố trình tại kỳ họp thứ 8 HĐND thành phố khóa 15

(Tóm tắt dự thảo đề án của UBND thành phố)

A. SỰ CẦN THIẾT

Trên địa bàn các quận: Hải An, Dương Kinh, Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Đồ Sơn và các huyện: Kiến Thụy, Cát Hải đang trong quá trình phát triển, nhiều công trình, dự án được triển khai xây dựng. Do đó, nhu cầu về đặt tên một số đường, phố và công trình công cộng là rất cần thiết. Việc đặt tên đường, phố và công trình công cộng tại đây nhằm góp phần thực hiện tốt công tác quản lý đô thị, quản lý hành chính; tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong các hoạt động giao dịch kinh tế, văn hóa - xã hội, thông tin liên lạc.

Trước thực tiễn trên, UBND thành phố xây dựng Đề án đặt tên 3 đường, 13 phố trên địa bàn các quận: Hải An, Ngô Quyền, Đồ Sơn và các huyện: Kiến Thụy, Cát Hải; đặt tên 4 công trình công cộng thuộc địa bàn các quận: Hải An, Đồ Sơn và huyện Cát Hải, trình tại kỳ họp thứ 8 HĐND thành phố khoá 15.

Theo đề án, dự kiến đặt tên cầu Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc trục đường cùng tên, vượt qua đường Lê Hồng Phong.             Ảnh: Giang Sơn Đông

B. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19-6-2015;

Căn cứ Nghị định số 91/2005-NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ về việc Ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng; Thông tư số 36/2006/TT-BVHTT ngày 20-3-2006 của Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.

C. NỘI DUNG ĐỀ ÁN

C1. ĐẶT TÊN ĐƯỜNG, PHỐ

I. QUẬN HẢI AN (4 phố)

* Phường Đằng Lâm

1. Phố Thư Trung

Điểm đầu: Từ đường An Trung (giáp Đình Thư Trung). Điểm cuối: Tiếp giáp nhà số 87 đường Ngô Gia Tự.

Thư Trung là tên làng cổ, có tên muộn nhất trước năm 1813, thuộc tổng Trung Hành, huyện An Dương, từ năm 1924 thuộc huyện Hải An, thành phố Hải Phòng (nay thuộc phường Đằng Lâm, quận Hải An). Nơi đây có nhà thờ Thư Trung, địa danh này đã quen thuộc, gắn bó từ lâu với nhân dân địa phương.

2. Phố Tô Vũ

Điểm đầu: Từ phố dự kiến đặt tên là phố Đỗ Nhuận. Điểm cuối: Nhà số BT01/193 phố Văn Cao, thuộc Tổ dân phố An Khê 2.

Tô Vũ, tên thật Hoàng Phú (1923-2014), là nhạc sĩ, giáo sư, nhà nghiên cứu âm nhạc đương đại của ViệtNam. Ông sinh ra ở Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang, nhưng từ nhỏ ông đã chuyển về Hải Phòng sinh sống. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông tham gia Ban Văn nghệ tuyên truyền tỉnh Kiến An. Năm 1950, tham gia Ban Nghiên cứu âm nhạc của Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật. Ông từng đảm nhiệm cương vị Viện trưởng Viện Âm nhạc cơ sở 2 tại thành phố Hồ Chí Minh, Thư ký Đoàn Nhạc sĩ khu 3, là một trong những người đầu tiên góp phần xây dựng Trường Âm nhạc Việt Nam. Tên tuổi và những đóng góp của ông được đánh giá trên một số tạp chí, sách, tiêu biểu là cuốn sách “Âm nhạc Việt Nam - Truyền thống và hiện đại”, do Viện Âm nhạc, xuất bản năm 2002.

3. Phố Đỗ Nhuận

Điểm đầu: Từ số nhà 191 đường Văn Cao. Điểm cuối: Tiếp giáp với phố dự kiến đặt tên là Tô Vũ (lối rẽ vào Tổ dân phố An Khê 2).

Đỗ Nhuận (1922-1991) quê ở thôn Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Cẩm BìnhHải Dương, theo gia đình về sống tại Hải Phòng. Ông là một trong những nhạc sĩ Việt Nam có nhiều đóng góp cho nền âm nhạc nước nhà. Ông là Tổng Thư ký đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam, là một trong những nhạc sĩ tiên phong của âm nhạc cách mạng. Năm 1943, vì in và rải truyền đơn tuyên truyền cho cách mạng, ông bị địch bắt và giam ở nhà lao Hải Dương, rồi đưa lên Hỏa Lò, sau bị đày lên Sơn La. Ông sáng tác nhiều bài hát cách mạng, đồng thời, là một trong những người đặt nền móng cho thể loại nhạc kịch theo truyền thống của opera phương Tây. Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật. 

* Phường Đông Hải 1

4. Phố Đoàn Chuẩn

Điểm đầu: Từ số nhà 615 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Điểm cuối: Tiếp giáp hồ Phương Lưu.

Đoàn Chuẩn (1924-2001) sinh tại đảo Cát Hải, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, là nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc trữ tình tiền chiến và là nhạc công ghita Hawai tài năng của Việt Nam. Trong sự nghiệp âm nhạc, ông để lại nhiều tác phẩm giá trị, được đông đảo công chúng yêu thích, quen thuộc đối với nhiều thế hệ, nhất là hình thành nhóm Đồng vọng nổi tiếng và tự hào của người đất Cảng từ những năm 1936-1945. Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm của nhân dân thành phố ghi nhận những đóng góp lớn lao của ông trong sự nghiệp âm nhạc. Hơn nữa, trên địa bàn quận Hải An có Trường trung học Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch - là cái nôi đào tạo tài năng âm nhạc, văn hóa, nghệ thuật của thành phố.

II. QUẬN NGÔ QUYỀN (2 phố)

* Phường Đằng Giang

1. Phố Vũ Trọng Khánh

Điểm đầu: Từ số nhà 188 đường Văn Cao. Điểm cuối: Tiếp giáp đường Thiên Lôi.

Vũ Trọng Khánh (1912-1996) là luật sư, trí thức yêu nước, sinh ra trong một gia đình tiểu thương ở Hà Nội, nguyên quán tại làng Cự Đà, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Năm 1936, ông tốt nghiệp cử nhân Luật. Năm 1945, là Thị trưởng thành phố Hải Phòng. Ông đã trực tiếp gặp Nguyễn Bình, Tư lệnh Chiến khu Đông Triều và tổ chức Việt Minh bàn tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở thành phố. Sau Tổng khởi nghĩa, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời và giao làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 20-9-1945, ông được cử tham gia Ủy ban dự thảo Hiến pháp và là một trong 7 thành viên (Hồ Chí MinhNguyễn Phúc Vĩnh Thụy - tức Bảo ĐạiĐặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn HiếnNguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu - tức Trường Chinh). Trong các năm 1956-1961, ông là Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hải Phòng. Ông được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí MinhHuân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.

2. Phố Phụng Pháp

Điểm đầu: Từ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Điểm cuối: Tiếp giáp với phố dự kiến đặt tên là Đỗ Nhuận.

Phụng Pháp là một làng cổ, có tên muộn nhất vào thế kỷ 17, trước năm 1813 là xã Phụng Pháp thuộc tổng Đông Khê huyện An Dương, từ năm 1924 là huyện Hải An, nay thuộc phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Tại đây còn bảo tồn được ngôi đình Phụng Pháp, thờ Đức vương Ngô Quyền. Đình Phụng Pháp là di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia được xếp hạng từ năm 1994. Đình thờ Đức vương Ngô Quyền - người anh hùng dân tộc có công đánh tan quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Ngoài ra, đình còn phối thờ ngài Đoàn Thượng và Nữ tướng Lê Chân. Đình Phụng Pháp là một công trình kiến trúc nghệ thuật còn tương đối nguyên vẹn. Trên các cấu kiện kiến trúc còn bảo lưu nhiều mảng điêu khắc tinh xảo, có giá trị mỹ thuật cao, mang những nét tiêu biểu của phong cách trang trí điêu khắc mỹ thuật trên kiến trúc gỗ thời kỳ giữa thế kỷ 19.

III. QUẬN ĐỒ SƠN (2 đường)

* Phường Bàng La

1. Đường Bàng La

Điểm đầu: Cầu sông Họng. Điểm cuối: Tiếp giáp địa phận xã Tú Sơn, huyện Kiến Thụy.

Bàng La là tên địa danh cổ và gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử dân tộc và trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Phường Bàng La đã vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Thời kỳ đổi mới, Đảng bộ, chính quyền phường Bàng La tiếp tục phát huy truyền thống quê hương, khắc phục mọi khó khăn, phát triển kinh tế - xã hội. Tên địa danh Bàng La đã gắn bó, quen thuộc, đi vào tiềm thức nhiều thế hệ người dân địa phương.

* Phường Hợp Đức

2. Đường Hợp Đức

Điểm đầu: Từ đường Phạm Văn Đồng. Điểm cuối: Tiếp giáp Trường THCS Hợp Đức.

Năm 1945, xã Hợp Đức được thành lập trên cơ sở các làng cũ của tổng Tư Sinh, huyện Kiến Thụy. Với những thành tích xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, năm 2003, xã Hợp Đức (nay là phường Hợp Đức) vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân". Địa danh Hợp Đức đã gắn bó, quen thuộc với nhiều thế hệ người dân địa phương.

IV. HUYỆN KIẾN THỤY (6 phố)

* Thị trấn Núi Đối

1. Phố Mạc Thái Tổ

Điểm đầu: Từ ngã ba tiếp giáp phố dự kiến đặt là Cẩm Xuân (Tượng đài Kim Sơn kháng Nhật). Điểm cuối: Tiếp giáp ngã ba Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy.

Mạc Thái Tổ tức Mạc Đăng Dung (1483-1541), sinh tại làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy). Hơn 20 năm làm quan dưới 4 triều vua Lê, lập nhiều công lớn, dẹp yên được nhiều cuộc loạn lạc nên được thăng tới chức Thái phó. Ông lập ra triều Mạc, dựng Dương Kinh ở Kiến Thụy. Sau ba năm trị vì đất nước, ông nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh, lui về Dương Kinh (xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy ngày nay) làm Thái Thượng hoàng. Những đóng góp của ông và Vương triều Mạc đã được các triều đại phong kiến đánh giá cao. Vừa qua, tên ông đã được đặt cho một đường phố ở Hà Nội. Đặt tên phố Mạc Thái Tổ nhằm ghi nhận một vương triều trong lịch sử phát tích từ quê hương Kiến Thụy, góp phần giáo dục truyền thống.

2. Phố Vũ Thị Ngọc Toàn

Điểm đầu: Từ ngã ba trung tâm thị trấn Núi Đối (tiếp giáp phố dự kiến đặt tên là Cẩm Xuân và Thọ Xuân). Điểm cuối: Tiếp giáp ngã ba khu dân cư Tắc Giang.

Vũ Thị Ngọc Toàn quê làng Trà Phương, nay thuộc xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, là người đoan trang, đã giúp chồng dựng lên cơ nghiệp. Khi Mạc Đăng Dung lên ngôi đã phong bà là Chính cung Hoàng hậu. Bà có công giúp đỡ nhân dân khai khẩn ruộng hoang, xây chùa, làm cầu, mở chợ. Bà đứng hưng chùa ở Trà Phương, Hòa Liễu, Đông Minh, Do Nghi, Văn Hòa (Hải Phòng), ở Hoạch Trạch, Trâu Bộ (Hải Dương), Thọ Lão, An Chiểu (Hưng Yên)... Nhân dân cảm phục công đức đó, đã lập am, lập đền thờ bà ở Hòa Liễu, Trà Phương. Đền, chùa Hòa Liễu (Kiến Thụy) thờ bà được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1993.

3. Phố Trần Quỳnh Trân

Điểm đầu: Tiếp giáp phố dự kiến đặt tên là Thọ Xuân. Điểm cuối: Ngã tư Tam Kiệt (xã Hữu Bằng).

Trần Quỳnh Trân (? -1308) là con gái trưởng của vua Trần Thánh Tông, chị gái vua Trần Nhân Tông, là người nhan sắc, tài hoa. Bà có công chiêu tập dân chúng khai hoang, mở đất, lập làng ở huyện Nghi Dương, Kiến Thụy. Khi bà còn sống, đêm đến bà gõ mõ, tụng kinh, niệm Phật, ban ngày tiếng mõ là hiệu lệnh tập hợp nhân dân đi làm, ăn uống, nghỉ ngơi. Khi bà qua đời, người dân quanh vùng lập đền thờ bà, tôn bà làm phúc thần và lấy tiếng mõ đặt tên cho đền để tưởng nhớ công đức của bà, do đó gọi là đền Mõ. Ngoài ra, một số địa danh gần đó cũng cùng tên tương ứng như chùa Mõ, tổng Mõ, chợ Mõ.Cảm ơn công đức của bà, nhân dân gọi bà là “Bà Chúa Mõ”. Năm 1308, bà mất, thi hài được đưa về chùa Tư Phúc ở Kinh đô an táng. Vua Trần Anh Tông ra sắc chỉ truy phong là Ả nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa, đồng ý cho 5 xã Nghi Dương, Xuân Dương, Mai Dương, Tú Đôi, Du Lễ rước sắc về xã Nghi Dương lập miếu thờ. Tên tuổi của bà  đã được các sử gia phong kiến ghi chép vào chính sử.

4. Phố Cẩm Xuân

Điểm đầu: Từ ngã ba trung tâm thị trấn Núi Đối (tiếp giáp phố dự kiến đặt tên là Vũ Thị Ngọc Toàn và Thọ Xuân). Điểm cuối: Chùa Bà Sét.

Cẩm Xuân là tên địa danh đã có từ lâu, được hình thành từ khi thành lập thị trấn Núi Đối, là tên ghép của hai thôn thuộc xã Thanh Sơn là Cẩm Hoàn và Xuân La (hai địa danh này có từ thế kỷ 16). Tên gọi Cẩm Xuân đã gắn bó, quen thuộc với nhân dân địa phương.

5. Phố Thọ Xuân

Điểm đầu: Từ ngã ba trung tâm thị trấn Núi Đối (tiếp giáp phố dự kiến đặt tên là Vũ Thị Ngọc Toàn và Cẩm Xuân). Điểm cuối: Tiếp giáp phố dự kiến đặt tên là Trần Quỳnh Trân.

Thọ Xuân là tên địa danh cổ, có từ lâu và là tên gọi của 2 tổ dân phố nơi có tuyến phố đi qua. Tên gọi Thọ Xuân đã gắn bó, quen thuộc với nhiều thế hệ nhân dân địa phương.

6. Phố Bùi Hướng Thành

Điểm đầu: Tiếp giáp đường 361 (từ ngã ba nhân dân quen gọi là cống Vịt). Điểm cuối: Tiếp giáp xã Minh Tân.

Bùi Hướng Thành, người xã Châu Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, năm 31 tuổi (năm 1897), đỗ cử nhân, làm tri huyện, rồi tri phủ Kiến Thụy (gồm 5 huyện: Kiến Thụy, An Dương, An Lão, Tiên Lãng, Thủy Nguyên). Ông đã có công huy động nhân dân làm đường Hải Phòng - Đồ Sơn. Khi đường đắp xong, ông xin chiêu dân, lập làng thành 2 tổng Tư Sinh và Tư Thủy (nay là địa bàn các phường Hòa Nghĩa, Hợp Đức, Minh Đức của quận Dương Kinh), được thân hào, thân sĩ địa phương rất ngưỡng mộ.

V. HUYỆN CÁT HẢI (1 phố, 1 đường)

* Thị trấn Cát Bà

1. Phố Hoa Phong

Điểm đầu: Từ ngã 3 giao cắt phố Núi Ngọc. Điểm cuối: Tiếp giáp ngã 3 giao cắt phố Núi Ngọc (Nhà công vụ UBND huyện).

Hoa Phong là tên gọi của huyện Cát Hải trước đây. Đây là tuyến phố ngang, chạy song song với phố dự kiến đặt là Cát Bà, là tuyến phố du lịch, thương mại lớn thứ 2 của thị trấn Cát Bà. Đặt tên phố Hoa Phong để ghi nhớ địa danh huyện Cát Hải xưa và gắn liền với thị trấn Cát Bà hiện nay.

2. Đường Hùng Sơn

Điểm đầu: Từ ngã 3 Tổ dân phố Hùng Sơn (thị trấn Cát Bà) đi qua Vườn quốc gia Cát Bà. Điểm cuối: Bến phà Gia Luận (xã Gia Luận).

Theo truyền thuyết, Hùng Sơn người làng Sò trước đây (nay là xã Nghĩa Lộ, huyện Cát Hải). Vào thời Hùng Vương thứ 6, giặc Ân sang cướp nước ta, theo lời hiệu triệu của Vua Hùng, Hùng Sơn đã đứng lên chiêu tập binh mã, thành lập đội thủy binh đánh giặc, lập nhiều chiến công, làm chậm đường tiến quân của giặc vào kinh đô nước Việt, tạo điều kiện thuận lợi cho quân triều đình có thời gian tích lũy lương thảo, rèn luyện quân binh, góp phần đánh thắng giặc Ân. Sau khi mất, ông được nhân dân trong vùng lập đền thờ suy tôn làm Đức thánh Hùng Sơn, vua Hùng ra sắc chỉ phong làm Thành hoàng làng Sò.

C2. ĐẶT TÊN CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG

1. Cầu Tân Vũ - Lạch Huyện (thuộc địa bàn quận Hải An và huyện Cát Hải)

Cầu rộng 29,5 m; thân cầu dài 5,44 km; đường dẫn lên cầu dài 10,19 km. Điểm đầu: Từ địa danh Tân Vũ thuộc phường Đông Hải 2, quận Hải An. Điểm cuối: Tiếp giáp xã Nghĩa Lộ, huyện Cát Hải.

Tên gọi Tân Vũ và Lạch Huyện là 2 địa danh đã có từ lâu thuộc khu vực quận Hải An và huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Khi làm cầu này, Chủ đầu tư đã lấy tên dự án là cầu Tân Vũ - Lạch Huyện. Mặt khác, cầu này dẫn ra Cảng Lạch Huyện; tên gọi cầu Tân Vũ - Lạch Huyện đã quen thuộc, gần gũi với nhân dân địa phương và nhiều doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

2. Cầu Nguyễn Bỉnh Khiêm (thuộc địa bàn quận Hải An)

Cầu thuộc trục đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, vượt qua đường Lê Hồng Phong. Cầu có chiều  dài 267 m, chiều rộng 16 m.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), là một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn với lịch sử cũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 16. Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam. Người đời coi ông là nhà tiên tri số một trong lịch sử Việt Nam, đồng thời lưu truyền nhiều câu sấm ký được cho là bắt nguồn từ ông và gọi chung là “Sấm Trạng Trình”. Xét một cách toàn diện lịch sử Việt Nam thế kỷ 16, nhiều người đã gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm là "cây đại thụ văn hóa dân tộc”. Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là một trong số những tác giả văn học của Việt Nam.

3. Cầu Phú Xá (thuộc địa bàn quận Hải An)

Cầu dài 252,2 m, rộng 18,5 m. Cầu thuộc trục đường Chùa Vẽ, vượt qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, thuộc quận Hải An.

Phú Xá là tên di tích lịch sử văn hóa xếp hạng cấp quốc gia từ năm 1990. Mặt khác, cầu Phú Xá nằm trên địa phận làng Phú Xá xưa (còn có tên là Phú Lương). Trước năm 1813, là xã Phú Xá thuộc tổng Hạ Đoạn, huyện An Dương (từ năm 1924 là huyện Hải An, nay là phường Đông Hải 1, quận Hải An, thành phố Hải Phòng). Tại địa điểm ngã ba cầu bắc qua, trước đây nhân dân quen gọi là ngã ba Phú Xá.

4. Quảng trường 15-5 (thuộc phường Vạn Sơn, quận Đồ Sơn)

Công trình công cộng này có diện tích: 7.700 m2. Đây là địa điểm tổ chức các hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị, văn hóa - xã hội của quận. Quảng trường thuộc khu 1, phường Vạn Sơn, quận Đồ Sơn.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết, Đồ Sơn nằm trong khu vực tập kết 300 ngày chuyển quân của thực dân Pháp. Trong khu tập kết, nhân dân Đồ Sơn đã kiên cường đấu tranh làm thất bại âm mưu phá hoại của địch, buộc tên lính viễn chinh Pháp cuối cùng rút khỏi bến Nghiêng, Đồ Sơn, tỉnh Kiến An (nay là quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng) vào ngày 15-5-1955. Đặt tên là Quảng trường 15-5 để ghi nhận dấu mốc lịch sử quan trọng, oanh liệt trong công cuộc đấu tranh, xây dựng, bảo vệ đất nước và thành phố trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

D. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

Sau khi Đề án đặt tên một số đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn các quận: Hải An, Dương Kinh, Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Đồ Sơn và các huyện: Kiến Thụy, Cát Hải, thành phố Hải Phòng năm 2018 được thông qua tại kỳ họp thứ 8 HĐND thành phố khóa 15; UBND thành phố giao các sở, ban, ngành và các địa phương liên quan tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể.-.